Chọn ngày giờ

    • Cách đổi ngày dương lịch ra ngày can chi

      Cách đổi ngày dương lịch ra ngày can chi

    • Thiên can, địa chi là gì?

      Thiên can và địa chi.

    • Xem ngày kén giờ

      Việc cưới xin, việc làm nhà cửa, việc vui mừng khai hạ, việc xuất hành đi xa, việc khai trương cửa hàng, cửa hiệu, việc gieo mạ cấy lúa, việc tế tự, việc thương biểu, việc nhập học, việc xuất quân, việc an táng... việc gì thường cũng phải xem ngày kén giờ, nhất là đầu năm mới bắt đầu làm việc gì, hoặc động thổ hoặc xuất hành, hoặc khai bút, khai ấn... lại cần xem ngày lắm. Đến những việc vụn vặt như cạo đầu xỏ tai cho trẻ thơ, việc tắm gội, may áo... cũng có người cẩn thận quá trong kén ngày.

Cuới hỏi

    • "Tăng cẩu"- nét đẹp trong văn hoá của người Thái đen

      Người Thái có nhiều nhóm: Thái đen, Thái trắng, Man Thanh, Tày Mười, Tày Thanh... với dân số hơn 1 triệu người phân bố ở nhiều vùng đất nhưng nhiều nhất vẫn là ở vùng Tây Bắc (Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Nghệ An). Dân tộc Thái có vốn văn học cổ truyền quý báu với kho tàng thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao… có nhiều điệu múa (khắp) độc đáo: xoè Thái, múa sạp. Văn hoá của người Thái rất phong phú thể hiện ở nhiều nghi lễ khác nhau như: cúng trời đất, cúng bản mường, nghi lễ cầu mùa, đám ma được gọi là lễ tiễn người chết về "mường trời", người dân tộc Thái ở nhà sàn, riêng người Thái đen làm nhà có hình mai rùa và được trang trí theo phong tục xưa. Nhưng tục búi tóc (tăng cẩu) lại chỉ phổ biến ở nhóm người Thái đen. Hôn nhân của người Thái đen là hôn nhân theo kiểu phụ hệ, nhưng từ trước tới nay, tập người này vẫn duy trì tục ở rể, gửi rể

    • Rước Chúa gái - Phong tục hôn lễ thời Hùng Vương

      Trong kho tàng những huyền thoại Việt Nam, câu chuyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh hay chuyện tình Ngọc Hoa đã trở thành quen thuộc với nhiều người, nhiều thế hệ. Ở đó chẳng những phần nào thấy được thiên nhiên, buổi hồng hoang trong lịch sử dân tộc với lụt lội, ác thú, núi cao rừng rậm, chiến tranh, giặc dã…và sức mạnh phi thường của nhân dân chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai, trị thuỷ bảo vệ mùa màng, cuộc sống; mà ở đó ta còn thấy được cả tục lệ hôn lễ trong thời đại Hùng Vương.

    • Nghi thức hôn lễ của người Chăm An Giang

      An Giang có 2.110 hộ người Chăm với 13.700 người luôn sống gắn bó, hoà nhập vào cộng đồng các dân tộc anh em và giữ gìn bản sắc văn hoá riêng. Xin giới thiệu với bạn đọc nghi thức hôn lễ cổ truyền của đồng bào Chăm An Giang.

Đạo hiếu

    • Bàn thờ tổ tiên với cội nguồn văn hóa dân tộc

      Có thể hiểu nôm na tín ngưỡng là niềm tin thành kính. Người Việt trong quá trình phát triển, từng cộng đồng có tiếp thu tôn giáo này hay tôn giáo khác từ bên ngoài truyền vào; nhưng từ xa xưa, và đồng thời với những tín điều của tôn giáo đang theo, vẫn có một tín ngưỡng thờ Tổ tiên.

    • Quan hệ giữa họ hàng và làng xã như thế nào? Phục hồi việc họ lợi hay hại?

      Phục hồi việc họ là một cách đúng đắn, vô tư, tức là phát huy được thuần phong mỹ tục. Nếu cán bộ cơ sở biết khéo léo vận dụng đường lối, loại trừ được 3 chiều hướng tiêu cực sau đây thì càng có nhiều dòng họ vững mạnh càng có lợi cho phong trào chung:

    • Bàn thờ vọng là gì? Cách lập bàn thờ vọng

      Bàn thờ vọng ngày nay khá phổ biến, áp dụng cho con cháu sống xa quê, hướng vọng về quê, thờ cha mẹ ông bà tổ tiên, hương khói trong những ngày giỗ, tết. Ngày xưa, với nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp, người nông dân suốt đời không rời quê cha đất tổ, chuyển cư sang làng bên cạnh cũng đã gọi là biệt quán, ly hương, vì vậy bàn thờ vọng chỉ là hiện tượng cá biệt và tạm thời, chưa thành phong tục phổ biến.

Giao thiệp

    • Mầu sắc với truyền thống văn hóa dân tộc

      Ở mỗi dân tộc việc vận dụng mầu sắc có tập quán khác nhau. Thí dụ ở các nước phương Tây, mầu đen là mầu tang tóc, còn ở Việt Nam và các nước phương Đông thì phổ biến màu tang là mầu trắng.

    • Miếng trầu là đầu câu chuyện

      Theo phong tục Việt Nam, miếng trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng nhiều tình cảm ý nghĩa, giàu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không "ăn trầu cách mặt" nghĩa là đã tiếp thì tiếp cho khắp.

    • Xuất xứ của tục nhuộm răng và cách nhuộm răng

      Tục nhuộm răng là tục cổ xưa của dân tộc Việt, có từ thời các vua Hùng với tục ăn trầu. Sứ thần của nước Văn Lang (giao chỉ) trả lời vua nhà Chu (Trung Quốc) vè tục ăn trầu "Chúng tôi có tục ăn trầu để khử mùi ô uế và nhuộm cho răng đen...".

Giỗ tết, tế lễ

    • Tết Ông Công Ông Táo

      Tết Táo quân vào ngày 23 tháng chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.

    • Tết Trung Thu

      Trung thu là giữa mùa thu, tết Trung Thu như tên gọi đến với chúng ta vào đúng giữa mùa thu tức là vào rằm tháng tám âm lịch. Tết Trung Thu là tết của trẻ em, còn được gọi là "Tết trông trăng". Trẻ em rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân, súng phun nước...rồi bánh nướng bánh dẻo. Vào ngày tết ngày người ta tổ chức bày cỗ, trông trăng. Thời điểm trăng lên cao trẻ em vừa múa hát vừa ngắm trăng phá cỗ. Ở một số nơi người ta còn tổ chức múa lân, múa sư tử để các em vui chơi thỏa thích.

    • Tết Nguyên Đán một giá trị tâm linh.

      Một năm, người Việt Nam có Tết Nguyên Đán ( đúng mồng một tháng giêng Âm Lịch) là ngày tết lớn nhất, ngoài ra còn có rất nhiều lễ, tết đặc trưng.

Phong tục hương đảng

    • Tục gõ sạp đón khách của người Thái (Yên Bái)

      Gõ sạp đón khách là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của đồng bào Thái vùng phía tây tỉnh Yên Bái. Gõ sạp tạo bầu không khí sôi động, náo nhiệt khi trong bản, trong mỗi nhà tổ chức các cuộc vui có đông khách tham dự.

    • Lệ buộc cót, nét văn hóa truyền thống của người Nùng

      Mỗi một vùng một dân tộc đều có nét văn hoá truyền thống riêng, người Nùng Bắc Kạn họ sống xen với các dân tộc khác. Họ có nét văn hoá riêng rất độc đáo, tạo ra truyền thống tốt đẹp. Một trong những truyền thống là lệ buộc cót (tiếng Tày, Nùng gọi là lẹ lảm dảo), là một phần nghi thức trong lễ Kỳ Yên của người Tày, Nùng.

    • Lễ cấp sắc của dân tộc dao

      Cấp sắc là một thủ tục không thể thiếu của đàn ông Dao. Lễ cấp sắc cũng tương tự như lễ thành đinh của một số dân tộc khác. Đối với người đàn ông dân tộc Dao được cấp sắc mới được coi là người đàn ông đã trưởng thành, được làm nghề cúng bái và được giao tiếp với cõi âm. Lễ cấp sắc có nhiều bậc: 3 đèn, 7đèn và 12 đèn.

Phong tục trong gia tộc

    • Thờ cúng tổ tiên

      Thờ cúng tổ tiên là tấm lòng thành kính thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho cháu con. Thờ cúng tổ tiên chính là toàn bộ các hình thức lễ nghi, cúng bái nhằm bày tỏ lòng tôn kính của các thế hệ sau với những người thuộc thế hệ đầu tiên của một dòng họ, với ông bà, cha mẹ đã qua đời.

    • Đạo làm con

      Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    • Vợ chồng

      Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.

Phong tục xã hội

    • Tục thờ Thành Hoàng làng của người Việt

      Tục thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ, sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng.

    • Hát ru - Nét Văn hóa truyền thống

      Đặt vấn đề hát ru trong việc xây dựng gia đình văn hóa hiện nay sẽ có người ngạc nhiên và cho rằng: Là không thực tế, là chủ quan, duy ý chí, là điều gì đó không thiết thực trong nhịp điệu sống hiện đại của sự bùng nổ thông tin, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão; của cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, v.v. và v.v.

    • Đi lễ đầu năm

      Thật khó xác định được từ thời gian nào, lễ hội đã trở thành hơi thở của cuộc sống. Lễ hội vừa là nét đẹp văn hoá của người Việt, vừa thể hiện mơ ước của ngàn đời về hạnh phúc và cuộc sống trường tồn. Mỗi độ xuân về, hoa Mai, hoa Đào đua nhau khoe sắc thắm, cũng là lúc mọi người nô nức rủ nhau đi trảy hội, để cầu mong sao cho đầu năm cuối năm gặp may, gia đình luôn hạnh phúc sum vầy. Đây cũng là dịp để mọi người tưởng nhớ đến tổ tiên, cội nguồn. Dù là ở những ngôi chùa cổ kính thờ Phật, nơi đình làng thờ Bản thổ Thành hoàng hay chốn uy nghi thâm nghiêm đền đài thờ các vị Thần thánh... nhưng chỉ với ba nén hương thơm cùng với những đoá hoa tươi cũng đủ để chúng ta nói lên lời thành kính.

Sinh dưỡng

    • Chén trà xanh

      Tục uống trà ở Việt Nam rất phong phú. Từ cách uống cầu kỳ cổ xưa đến cách uống bình dân, hiện đại. Thường một bộ đồ trà có bốn chén quân, một chén tống để chuyên trà. Nước pha trà phải là thứ nước mưa trong hoặc thứ sương đọng trên lá sen mà người đi thuyền hứng từng giọt vào buổi sớm. Phương ngôn còn lưu truyền những lời dạy về cách uống trà như "trà dư, tửu hậu", "rượu ngâm nga, trà liền tay", "Bán dạ tam bôi tửu. Bình minh nhất trản trà"...

    • Lễ Vu Lan

      Tháng 7 âm lịch hàng năm, đặc biệt rằm tháng 7 là ngày lễ Vu Lan. Phật tử và khách thập phương nô nức đền chùa để tưởng nhớ, tôn vinh công sinh thành dưỡng dục, cầu nguyện cho cha mẹ, cho vong hồn người thân và các "cô hồn thập phương" được siêu thoát...

    • Cỗ và mâm cỗ ở Việt Nam

      Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tang lễ

    • Phong tục tang ma

      Do cho rằng trong con người có phần xác và phần hồn, sau khi chết. linh hồn sẽ về nơi "thế giới bên kia" và với thói quen sống bằng tương lai (sản phẩm của lối tư duy theo triết lí âm dương, cho nên người Việt rất bình tĩnh, yên tâm chờ đón cái chết. Chết già vì vậy được xem là một sự mừng : trẻ làm ma, già làm hội. Nhiều nơi có người già chết còn đốt pháo; chắt chút để tang cụ kị thì đội khăn đỏ, khăn vàng (là màu tốt theo Ngũ hành).

    • Thời gian để tang

      Việc để tang ở nước ta chia ra đại tang và tiểu tang. Về tiểu tang có 4 bậc, đại tang chỉ có 1 bậc. Đại tang và tiểu tang gồm tất cả 5 bậc, gọi là ngũ phục.

    • Tục tẩn táng ở Long Sơn.

      Xã đảo Long Sơn (TP Vũng Tàu) ngày nay còn bảo lưu nhiều phong tục tập quán xưa cũ, trong đó có tục tẩn táng khá kỳ lạ. Trên đảo, người chết được liệm trong một quan tài chung và chỉ được để 24 tiếng đồng hồ rồi đem đi chôn cất. Quan tài được đem về ngay sau khi đưa thi hài xuống huyệt.